Các thế lực thù địch, phản động đã tập trung khoét sâu, thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và rêu rao rằng, sau 40 năm đổi mới, nhân dân Việt Nam “vẫn phải sống trong cảnh bần cùng”, “văn hoá, xã hội xuống cấp, đạo đức suy đồi”…Đây là sự xuyên tạc, vu khống hết sức trắng trợn, nhằm làm hoang mang, giao động trong nhận thức, tư tưởng, suy giảm niềm tin của một bộ phận người dân đối với Đảng; bởi sự thật hoàn toàn khác. Dưới đây tác giả xin nêu một số thành tựu trong lĩnh vực kinh tế để thấy được sau 40 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được bướt tiến ngoạn mục, nhân dân ngày càng ấm no hạnh phúc, văn minh, hiện đại.
Theo các số liệu được công bố công khai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chúng ta thấy: Trong suốt 40 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 10 năm 1990-2000 đạt 7,5%. Giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 5,9%/năm. Giai đoạn 2016-2019 ước đạt 6,8%/năm. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực; IMF đánh giá Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019.
Năm 2020, dưới tác động tiêu cực của COVID-19, nhiều nước trên thế giới rơi vào suy thoái. Nhưng, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì tăng trưởng dương (2,9%), bảo đảm an sinh xã hội. Giai đoạn 2020-2025 tốc độ tăng trưởng bình quân vẫn đạt 6,3%. Đặc biệt năm 2025 được coi là thời điểm “tăng tốc và bứt phá”; kinh tế Việt Nam đã vượt qua “tác động kép” của bối cảnh toàn cầu và nội tại, đạt tốc độ tăng trưởng 8,02%.
Về tổng GDP, năm 1989, quy mô nền kinh tế nước ta mới đạt 6,3 tỷ USD, đến năm 2025 đạt 514 tỷ USD, gấp 81,5 lần năm 1989. Năm 1986 Việt Nam vẫn phải nhập khẩu gần 1 triệu tấn lương thực để cứu đói, đến năm 1989 chỉ sau 3 năm đổi mới Việt Nam đã đủ ăn và bắt đầu xuất khẩu gạo. Từ đó đến nay Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu các nước xuất khẩu gạo của thế giới. Năm 2024, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt mức kỷ lục 9,18 triệu tấn, với kim ngạch 5,75 tỷ USD. Năm 2025 xuất khẩu trên 8 triệu tấn gạo, thu về trên 4,1 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản, như: cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản phẩm từ gỗ... luôn duy trì ở mức cao.
Đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến công nghiệp... Đến năm 2023, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 36,6 tỷ USD; năm 2024 đạt khoảng 38,23 tỷ USD; năm 2025 đạt 38,4 tỷ USD, giai đoạn 2020-2025 đạt 184,3 tỷ USD, đưa Việt Nam thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt trên 543 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 281 tỷ USD; nhập khẩu đạt 262 tỷ USD, xuất siêu 19 tỷ USD. Năm 2025 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta đạt 920 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 470,59 tỷ USD, nhập khẩu đạt 449,41 tỷ USD; cán cân thương mại tiếp tục duy trì trạng thái xuất siêu với mức 21,2 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua.
Thu nhập bình quân đầu người năm 1986 đạt 74 USD đến năm 2025 đạt khoảng 5.026 USD, gấp gần 1,4 lần năm 2020, gấp 67,91 lần năm 1986. Nếu năm 1986 Việt Nam là một trong những nước nghèo, kém phát triển nhất thế giới thì năm 2025 Việt Nam đã thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình cao của thế giới.
Năm 2006, Việt Nam hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm nhanh, đến năm 2020 còn dưới 3% (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh…Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.
Cùng với cả nước, Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới, địa hình khó khăn, phức tạp, là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước. Nhưng khi nhìn vào hệ thống điện, đường, trường, trạm, thông tin, nước sạch, nhà ở, tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ lao động được đào tạo, có tay nghề, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, mức sống bình quân, phương tiện đi lại, công cụ làm ăn, mạng lưới dịch vụ, trình độ sản xuất của người dân,…thì bất cứ ai cũng thấy rất rõ sau 40 năm đổi mới cuộc sống đã thay đổi nhanh chóng theo hướng văn minh, hiện đại như thế nào. Đó là bức tranh kinh tế vô cùng sáng sủa, ấn tượng của đất nước ta, không thể phủ nhận. Ấy thế mà các thế lực thù địch lại trơ tráo rêu rao rằng sau 40 năm đổi mới, nhân dân Việt Nam “vẫn phải sống trong cảnh bần cùng”. Thật là lố bịch và vô căn cứ.
Cán bộ, đảng viên và mỗi người dân khi đọc được, nghe được các luận điệu vu khống, xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, những kẻ bất mãn chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta thì cần tỉnh táo, không hoài nghi hoang mang dao động. Lấy hiện thực cuộc sống tốt đẹp sau 40 năm đổi mới để phản bác lại các luận điệu đó, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta đang phấn đấu xây dựng, giữ vững niềm tin với Đảng ta./.